Tin tức
Hội Quán Nghĩa Nhuận
Ngày đăng: 21/11/2025
Hội quán Nghĩa Nhuận nguyên là đình thôn Tân Nhuận, một thôn làng được lập năm 1836. Theo Vương Hồng Sển, Hội quán Nghĩa Nhuận được lập năm 1872(1). Trong lịch sử, sau khi thực dân Pháp đặt chính quyền cai trị ở Nam Kỳ, đình đã trở thành Hội quán Nghĩa Nhuận và thờ Quan Thánh Đế Quân.
Hội quán Nghĩa Nhuận được Bộ Văn hóa và Thông tin công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia Năm 1993 theo Quyết định số 43-VH-QĐ ngày 07 tháng 01 năm 1993.
Khuôn viên Hội quán Nghĩa Nhuận rộng khoảng 2000m², gồm sân và hồ phóng sinh phía trước. Hai bên sân đặt tượng thờ các vị thần. Khu vực chính chia hai phần: phía trước có tiền điện, thiên tỉnh, chính điện (trục chính), Đông sương, Tây sương (trục phụ); phía sau là nghĩa từ và công trình phụ.
Hội quán mang kiến trúc đền miếu cổ Trung Hoa, xây từ đá, gỗ, gạch, ngói. Thềm bậc, khung cửa, một số cột làm từ đá lớn, bộ khung gỗ đặt trên tường chịu lực. Mái lợp ngói âm dương, diềm mái thanh lưu ly hoa văn tinh xảo. Trên nóc tiền điện, chính điện có phù điêu lưỡng long chầu hồ lô, cá hóa long. Mái hiên trang trí phù điêu gốm hình người, xe, thành quách… sinh động, nhiều màu sắc.
Nổi bật trước cửa là hai cột hiên bằng đá chạm rồng và cặp tượng sư tử chầu. Dịch sang hai bên có tượng Di Đà Hộ Pháp và Vương Đại Thiên Quân. Trên khung cửa chạm chìm các chữ “Hội quán Nghĩa Nhuận”. Chí hướng và sự nghiệp của Quan Đế được thể hiện qua đôi câu đối bằng chữ Hán chạm nổi trên vách đá, với nội dung ca ngợi lòng trung nghĩa và sự nghiệp của Quan Thánh Đế Quân. Nội dung thể hiện chí khí kiên cường của ông trong việc phò trợ nhà Hán, đánh dẹp Ngô – Ngụy đồng thời, câu đối khẳng định tinh thần thống nhất đất nước và lòng trung nghĩa vẹn toàn.
Tiền điện có bàn thờ Tả Thần Môn, tượng ngựa Xích Thố và giá trống, đặt đối diện với bàn thờ Hữu Thần Môn, bàn thờ Chiến sĩ trận vong và giá chuông ở bên phải.
Chính giữa tiền điện là một lư hương bằng đồng cao gần 1 mét đặt trên một chân đế ba chân bằng gỗ. Dọc hai bên có hai bộ lỗ bộ dựng trên giá.
Cuối tiền điện đặt tấm bình phong lớn gọi là trung môn, cao khoảng 2,5m, rộng 2m, chạm trổ tinh xảo và sơn son thếp vàng. Mặt trên có lưỡng long tranh châu, cá hóa long, chim phụng xòe cánh. Phần giữa khắc các đề tài “Bát Tiên quá hải”, “Cầm, kỳ, thi, họa”, cùng hoa lá, chim muông. Chân đỡ là bốn kỳ lân hướng bốn phía và hai rùa ở giữa, tạo vẻ sinh động, độc đáo.
Tiền điện cách chính điện bởi một sân thiên tỉnh. Giữa thiên tỉnh đặt một đỉnh gang có bốn cột chạm rồng. Ở đây còn lưu giữ năm tấm bia đá ghi lại các lần trùng tu hội quán và một bia đá ghi lại việc Hội quán Nghĩa Nhuận lập một chỗ hội họp, lễ bái riêng.
Chính điện cao hơn tiền điện, trang trí ba lớp bao lam cửa võng, chạm trổ cả hai mặt với các đề tài như Bát Tiên quá hải, tùng – lộc, mẫu đơn – trĩ, ngư – tiều – canh – độc, hoa cúc – chim công…Gần thềm chính điện có ba hương án đặt ngang hàng, mỗi hương án đều được chạm trổ tinh xảo. Trước hương án giữa là bộ đỉnh trầm đồng cao gần 1m, đường kính khoảng 80cm, hình ba rồng nâng quả cầu, trên thân cầu đúc ba kỳ lân. Hai bên đỉnh trầm đặt hai bộ binh khí, mỗi bộ gồm tám loại.
Một khoảng rộng ở giữa chính điện dành cho bá tánh quỳ lạy cúng tế. Sát hai bên vách tường là hai bộ trường kỷ bằng gỗ quí khảm xà cử lấp lánh, đẹp mắt.Các khám thờ được đặt phía cuối chính điện, đều được làm bằng gỗ quí và chạm trổ long, lân, qui, phụng, mai, lan, cúc, trúc…
Khám thờ Quan Đế đặt ở gian giữa. Quan Đế tức Quan Vũ, Quan Vân Trường, còn gọi là Quan Công Xích Đế, Quan Thánh Đế Quân. Ông sinh năm 160 mất năm 219, là người Sơn Tây, Trung Hoa, được ca ngợi là một vị tướng giỏi, đại diện cho trung, hiếu, nghĩa, dũng… Tượng Ông cao hơn 1 mét, mặc áo bào xanh, ngồi trên ngai.
Sát trước khám thờ có thêm hương án để bày biện lư hương, chân nến, bình hoa… Mặt trước hương án trang trí phù điêu chạm bong đề tài “Lục quốc phong hoành tường”. Trên thanh ngang phía trên hương án là hoành phi “Thiên cổ nhất nhân” (Người xưa nay chỉ có một).
Khám thờ Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh ở gian bên trái của chính điện. Sắc phong của vua Tự Đức ban tặng cho Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh được đặt trong một tủ kính lớn. Trước hương án sát trước khám thờ Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh được trang trí phù điêu miêu tả Lê Lợi khởi nghĩa và còn có một cặp tượng qui – hạc khá lớn.
Gian bên phải chính điện thờ Thiên Hậu. Bà là người Phúc Kiến, sinh ra có mây ngũ sắc phủ đầy nhà, từ nhỏ đã có năng lực siêu nhiên. Sau khi mất Bà rất hiển linh nên được Hoàng đế nhà Thanh phong tặng là Thiên Hậu Thánh Mẫu, Thiên Hậu Nguyên Quân. Trước khám thờ Thiên Hậu có hương án được chạm phù điêu “Hai Bà Trưng khởi nghĩa” ở mặt trước và hoành phi “Hàm hoằng quang đại” (Ơn đúc to lớn) treo cao phía trên.
Bên trái chính điện là lối đi dẫn ra nghĩa từ ở phía sau của hội quán. Nghĩa từ thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền có công với thôn làng với ba bàn thờ đặt ngang hàng và các bài vị được treo trên tường. Trước mỗi bàn thờ có một tủ thờ bằng gỗ khảm xà cừ hình mai – điểu, tùng – hạc, nho – sóc…
Nhìn chung cách thức bài trí thờ cúng ở hội quán đơn giản nhưng không kém phần tôn nghiêm. Số lượng hoành phi, liễn đối tương đối ít nhưng khá mới lạ với các mảng chạm cá hóa long, lẳng hoa…
Bên cạnh các tác phẩm chạm khắc đá như cột rồng, tượng sư tử, câu đối, nét nổi bật của Hội quán Nghĩa Nhuận là nghệ thuật chạm khắc gỗ mang phong cách Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, được thể hiện ở khắp nơi trong hội quán: bao lam điện thờ, bao lam khám thờ, hương án, liễn đối… với thiết kế lạ như trái đào lộn hột, trái măng cụt, chim đậu trên chùm mận… bên cạnh các đề tài cổ điển quen thuộc.
Hàng năm, theo âm lịch, tại Hội quán Nghĩa Nhuận có ba ngày cúng lớn là ngày Quan Đế hiển thánh (24 tháng 6), lễ Kỳ Yên (17 tháng 8), vía Thiên Hậu (23 tháng 3).
Hội quán Nghĩa Nhuận không chỉ là di tích của làng Tân Nhuận xưa mà còn là một công trình kiến trúc nghệ thuật với những tác phẩm thể hiện đề tài dân tộc bằng phong cách hiện đại, cho thấy bước tiến mới của nghệ thuật điêu khắc gỗ vùng Gia Định xưa – Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.